nếu như người ta có xác xuất gọi fone trò chuyện đường dài với nhau thì bác sĩ thời nay ý là họ cũng có xác xuất mổ đường dài cho bệnh nhân đang ở thành thị khác , quốc gia khác , thậm chí… hành tinh khác.
Ảnh: Shutterstock |
Hơn 40 năm vẫn cứ “hot”
Trong phòng mổ , bác sĩ bất tỉnh nhân sự bảo bệnh nhân đếm ngược thì 10 đến 1. Chỉ đến 5 , bệnh nhân đã không rỏ, không chắc và nhanh chóng hôn mê. Tất cả công chức y tế đều đã hiện diện , ngoại trừ… bác sĩ phẫu thuật. Ông ấy đang ở trong một căn phòng tối tù mù cách đó hàng ngàn cây số , chung quanh đầy những máy tính , màn hình cùng với một bộ điều khiển phẫu thuật nối dài cánh tay ông bác sĩ với những cánh tay rô bốt trong phòng phẫu thuật ở bên kia bờ đại dương. Ca mổ cứ thế diễn ra dù phẫu thuật gia không một lần chạm tay vào người bệnh nhân.
Đó làm gọi là phẫu thuật từ xa , một công nghệ được tính tới từ thời thập niên 70 của thế kỷ trước. Cơ quan hàng không và không gian quốc gia Mỹ ( NASA ) là nơi đã “đẻ” ra khái niệm này khi dạm ngõ công nghệ đưa con người vào không gian. Chuyện gì sẽ xảy ra khi các phi hành gia gặp sự cố cần phải phẫu thuật khẩn cấp? Việc thương nghiệp hóa các chuyến bay vào không gian càng khiến cho nhu cầu này càng tăng cao.
Xét ở một phương diện nào đó , các phẫu thuật gia rô bốt vượt trội con người ở nhiều khía cạnh: không mảy may hoảng loạn trong bất kỳ cảnh huống nguy cấp nào , không hề run tay dù thức suốt đêm , không hề khao khát trở về nhà dù ở trên vũ trụ hàng năm trời…
Với tay lên sao hỏa mà mổ?
Không chỉ là khái niệm , mới đây một phẫu thuật gia tập sự mang tên Robonaut 2 đã được đóng thùng , gởi lên Trạm không gian quốc tế ( ISS ). Cũng giống như sinh viên trường y , trước mắt Robonaut 2 sẽ bị “sai vặt”: lau chùi , theo dõi hệ thống giao thông lọc khí… trong ISS , sau thời gian ấy học cách chuyển di trong môi trường không trọng lực trước khi tính tới chuyện cứu người.
Robonaut 2 không lẻ loi mà thêm 4 “anh em” của nó cũng đang được thử nghiệm dưới mặt đất , theo BBC. Một trong số đó đang được huấn luyện tìm mạch bằng sóng siêu thanh và sau thời gian ấy học chích. Một khi đã biết chích , rô bốt sẽ giỏi hơn cô y tá giàu kinh nghiệm nhất vì độ xác thực của nó rất cao.
Một trong những thách thức lớn nhất của trái với cận cảnh phẫu thuật xuyên hành tinh là sự bê trễ từ hành động của phẫu thuật gia dưới mặt đất đến cánh tay rô bốt trên không gian. Gordon Mair , một chuyên gia trong chuye này làm việc tại Đại học Strathclyde ( Anh ) giải thích: “Nếu anh chỉ dẫn rạch một vết , phải một chốc sau , rô bốt mới rạch. Một giây chậm chạp cũng đủ gây hậu quả , bởi vết rạch có xác xuất quá sâu hoặc quá cạn.” Ấy nguyên do là vì khoảng cách quá xa từ mặt đất tới ISS , khiến cho tín hiệu phải mất vài giây mới tới. Tuy nhiên , NASA tự tín sẽ vượt qua được thử thách này , bởi kế hoạch của họ không chỉ là từ mặt đất mổ lên trạm không gian mà còn với xa hơn rất nhiều , tới tận Sao Hỏa.
Sẵn sàng cắt thận từ xa?
trong khi chuyện mổ xuyên hành tinh nghe còn xa như… Sao Hỏa thì trên mặt đất , nó đã diễn ra từ lâu. Ca mổ điều khiển từ xa đầu tiên đã được thực hành từ năm 2001 , khi bác sĩ Jacques Marescaux từ New York ( Mỹ ) với tay băng qua đại dương mà mổ túi mật cho một bệnh nhân ở Strasbourg ( Pháp ). Khoảng cách giữa 2 bên là tròm trèm 6.500 km. Một đường truyền cáp quang được dành riêng cho sự giao thông giữa bác sĩ và rô bốt cùng với các công chức y tế trong phòng mổ , vì thế sự chậm chạp giữa bác sĩ và rô bốt chỉ là 150 mili giây , được xem là không đáng kể. Tất cả các cuộc thảo luận giữa 2 bên , hình ảnh , dữ liệu giữa các máy tính đều truyền tải hầu như tức thời phê duyệt đường truyền cáp quang.
Khoảng 2 năm rưỡi sau ca mổ đột phá kể trên , Mehran Anvari , một chuyên gia mổ nội soi đầu ngành ở Canada bắt đầu bê mô hình này sang Canada , đứng từ bệnh viện St. Joseph ở Ontario để mổ cho bệnh nhân ở bệnh viện đa khoa North Bay – nằm ở vùng nông thôn cách đó chừng 400 km. Không giống như đường truyền cáp quang riêng được thiết lập giữa Mỹ và Pháp trong trường hợp kể trên , bác sĩ Anvari dùng đường cáp quang công cộng nhằm cắt giảm phí tổn nhưng cũng chỉ tốn có 20 mili giây để báo cáo “đi” từ đầu này sang đầu kia. Từ Ontario , ông chỉ việc điều khiển cánh tay robot cầm dao , kéo , banh , kim… để rạch , may cắt bỏ sự hoạt động những phần cần loại bỏ trên tài thể bệnh nhân... Mắt bác sĩ luôn dán vào các màn hình với hình ảnh 3D do camera trên tay rô bốt ghi nhận và truyền về.
Sau hơn 20 ca mổ từ xa như thế , nay bác sĩ Anvari tuyên bố công nghệ này đã tốt hơn trước đến mức có xác xuất đem ứng dụng đại trà trên công chúng: “Tay tôi đặt trên tay rô bốt , tôi điều khiển camera trên robot để có xác xuất thấy rõ những chỗ cần thiết , tôi có xác xuất chỉ dẫn và thảo luận tức thời với y tá trong phòng mổ… Một các căn bản , nó cũng giống như tôi đang ở ngay bên cạnh bệnh nhân , chỉ là dùng viễn thông và rô bốt. Tôi không thấy khác biệt gì cho lắm.”
Bộ quốc phòng Mỹ cũng đã lên kế hoạch cụ thể để đến 2005 rô bốt được bác sĩ điều khiển từ xa sẽ phẫu thuật cho quân nhân ngay sát chiến trường.
bây giờ , mổ từ xa vẫn còn khá đắt đỏ , nhưng một khi được ứng dụng đại trà , nó có xác xuất sẽ rẻ hơn việc chuyển bệnh nhân đến những bệnh viện lớn. Mổ rô bốt sẽ còn dẫn đến những thay đổi rất lớn trong chữa trị bệnh. Chả hạn một người Mỹ không đủ tiền trả cho các service y tế đắt đỏ ở đây có xác xuất quay sang Cuba mà mổ , tất nhiên là vẫn nằm trong một phòng mổ cho thuê nào đó ở Mỹ.
Nhưng trước khi tất cả những điều đó diễn ra đại trà , phải có một cơ sở pháp lý đứng đằng sau thời gian ấy. Ví như xảy ra một sơ sót nào đó gây hậu quả tai hại cho bệnh nhân , ai sẽ chịu trách nhiệm: phòng mổ với con rô bốt hay là ông bác sĩ bằng xương bằng thịt đang ở xa tít tắp?
Nếu bạn đang rất nô nức với công nghệ mổ rô bốt thì cũng hay thử nghĩ suy kỹ về một trái với cận cảnh cụ thể: bạn có yên tâm để cho một ông bác sĩ nào đó chưa từng gặp mặt , lại ở một thành thị khác , một đất nước khác cắt bỏ sự hoạt động quả thận của mình?
cảnh huống ngoài dự đoán là chuyện thường nhật trong phòng mổ. Điều gì sẽ xảy ra khi bệnh nhân bỗng ngưng thở , bệnh nhân dị ứng tai hại với thuốc mà ông bác sĩ lại ở xa tít tắp? Tamas Haidegger , một nhà nghiên cứu tại Đại học Obuda ở Budapest ( Hungary ) ý là rô bốt điều khiển từ xa được trang bị thêm trí sáng ý nhân tạo sẽ là lời giải đáp trong tương lai. Theo ông , đây cũng sẽ là giải pháp cho trái với cận cảnh phẫu thuật trên Sao Hỏa. |
Comments[ 0 ]
Post a Comment